Hội Khoa học Đất Việt Nam
Hội Khoa học Đất
Việt Nam
Vietnam Soil Science Association

Nghiên cứu sử dụng tro bay và apatit để xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng do khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên

Đặng Văn Minh · Văn Hữu Tập · Mai Thị Lan Anh · Hoàng Trung Kiên · Dương Thị Minh Hòa
01/01/2017 1 lượt xem Trang 23–27

Tóm tắt

Ô nhiễm kim loại nặng trong đất sau khai thác khoáng sản đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, các mẫu đất nghiên cứu được lấy tại bãi thải và khu vực xung quanh bãi thải mỏ chì kèm làng Hích, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên năm 2016. Kim loại nặng tổng số (Pb, Zn, Cd, As), pH, EC, CEC, Eh, NTS và KTS được phân tích để đánh giá đặc tính của đất. Kết quả phân tích cho thấy, đất tại khu vực nghiên cứu nghèo chất dinh dưỡng và chất hữu cơ (nitơ tổng số: 0,04 – 0,058%, cac bon hữu cơ: 0,32 – 2,32%), pHKCl: 5,08 – 7,3. Hàm lượng kim loại nặng tổng số vượt tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam. Cụ thể là so sánh với QCVN 03- MT:2015/BTNMT – áp dụng đối với nhóm đất nông nghiệp thì As vượt tiêu chuẩn cho phép từ 8,5 đến 197,53 lần; hàm lượng Pb vượt 6 đến 282 lần; hàm lượng Cd vượt 2,56 đến 262 lần; hàm lượng Zn vượt 1,6 đến 78,1 lần. Như vậy, đất sau khai thác khoáng sản tại khu vực nghiên cứu bị ô nhiễm kim loại nặng cần phải có các giải pháp xử lý. Từ khóa: Kim loại nặng, Khai thác khoáng sản, Mỏ chì kẽm, làng Hích, Ô nhiễm đất. Using flying ash and apatite to treat soil contaminated by heavy metals after mineral mining in Thai Nguyen province Dang Van Minh1, Van Huu Tap2, Mai Thi Lan Anh2, Hoang Trung Kien2, Duong Thi Minh Hoa3 1 Thai Nguyen University 2 Thai Nguyen University of Sciences 3 Thai Nguyen University of Agriculture and forestry

Từ khóa

Zinc-Lead mine Hich village Adsorption Heavy metals Polluted soils
Chia sẻ:
Đã sao chép liên kết!
Trích dẫn

Đặng Văn Minh, Văn Hữu Tập, Mai Thị Lan Anh, Hoàng Trung Kiên, Dương Thị Minh Hòa (2017). Nghiên cứu sử dụng tro bay và apatit để xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng do khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên. Số 51 - 2017. tr. 23–27.