Hội Khoa học Đất Việt Nam
Hội Khoa học Đất
Việt Nam
Vietnam Soil Science Association

Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón cho cây vải thiều tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Nguyễn Duy Phương · Nguyễn Quang Hải · Ngô Ngọc Ninh · Nguyễn Tiến Lực · Vũ Đình Hoàn
01/01/2024 1 lượt xem Trang 43–48

Tóm tắt

Bón phân không đủ và bón không cân đối cho cây vải thiều tại huyện Lục Ngạn là khá phổ biến, đây được xem là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả vải khi thu hoạch. Kết quả điều tra chỉ ra rằng, không bón hữu cơ cho cây vải chiếm 42,7% trong tổng số hộ điều tra, chủ yếu là diện tích vải trồng trên đất đồi dốc ở các xã miền núi. Phân hữu cơ sử dụng cho cây vải chủ yếu là phân gia súc, gia cầm ủ theo phương pháp truyền thống với lượng bón trung bình từ 7,8 – 9,03 kg/cây, tương đương 10 – 12% so với khuyến cáo. Phân hóa học sử dụng cho cây vải chủ yếu là phân bón hỗn hợp NPK với nhiều tỉ lệ khác nhau, trung bình lượng phân đạm sử dụng cho cây vải dao động từ 0,61 – 0,67 kg N/cây; lân từ 0,73 – 1,0 kg P2O5/cây và kali từ 0,68 – 0,73 kg K2O/cây, tương đương 54,9 – 56,5% và lượng phân kali bón chỉ bằng 31,7 – 34,7%, trong khi đó lượng phân lân sử dụng cho cây vải lại cao hơn từ 1,4 – 2,1 lần so với khuyến cáo. Một điểm đáng chú ý là số hộ bón phân đạm và phân kali không đủ cho cây vải chiếm 63,0% và 86,3%, bón thừa lân chiếm 68,0% trong tổng số hộ điều tra. Số lần bón phân cho cây vải tùy thuộc vào tình hình sinh trưởng của cây, tình trạng ra hoa và đậu quả, phần lớn các hộ dân bón phân cho cây vải 4 lần/năm bao gồm bón phục hồi cây, bón thúc hoa và hai lần bón nuôi quả vào thời điểm sau khi rụng sinh lý và giai đoạn quả chuẩn bị bước vào giai đoạn chín. Keywords: vải thiều, phân hữu cơ, phân bón hỗn hợp NPK.

Từ khóa

vải thiều phân hữu cơ phân bón hỗn hợp NPK
Chia sẻ:
Đã sao chép liên kết!
Trích dẫn

Nguyễn Duy Phương, Nguyễn Quang Hải, Ngô Ngọc Ninh, Nguyễn Tiến Lực, Vũ Đình Hoàn (2024). Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón cho cây vải thiều tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Số 73 - 2024. tr. 43–48.